giám định pháp y thương tích

Với những tư vấn về câu hỏi Giám định thương tích cần những bên nào có mặt để hợp pháp, Công ty Luật LVN mong rằng đã có thể giải đáp được nhu cầu của quý khách, nếu quý khách vẫn còn chưa rõ hoặc có thông tin mới với trường hợp trên, quý khách có thể liên 4. tổn thương ảnh hưởng thị lực được tính khi đo đeo kính. 5. chỉ giám định khi bệnh nhân đã điều trị ổn định, trừ các trường hợp bệnh nhân điều trị quá dài ngày tại bệnh viện. 6. hồ sơ giấy tờ làm căn cứ để giám định ko quá 3 tháng. 7. một vết thương Ban hành các quy trình giám định pháp y. Từ ngày 15/4/2014, các quy trình giám định pháp y sẽ được thực hiện theo Thông tư 47/2013/TT-BYT. Theo đó, kèm theo Thông tư gồm 3 phần: Quy trình giám định pháp y (54 quy trình), Quy trình giám định hóa pháp (29 quy trình), Quy trình giám định Các ngân hàng thương mại đã chủ động, tích cực hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng dịch COVID-19 bằng nhiều biện pháp. Đến cuối tháng 7/2022, cơ cấu lại thời hạn, giữ nguyên nhóm nợ 722 nghìn tỷ đồng với 1,1 triệu khách hàng; miễn giảm lãi, giữ nguyên Ngày 19/10, Cơ quan CSĐT Bộ Công an cho biết, vừa bắt tạm giam ông Đinh Quốc Thái – cựu Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai và ông Trần Đình Thành – cựu Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai để điều tra về tội nhận hối lộ. Trước đó, chiều 18/10, Cục Cảnh sát điều … Đọc tiếp "Bắt tạm giam cựu Bí thư Tỉnh ủy và Site De Rencontre Avec Des Qatari. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI BẢN ÁN 86/2019/HSPT NGÀY 25/01/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH Ngày 25 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 814/2018/TL. HSPT ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Ph do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST ngày 15/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. - Bị cáo có kháng cáo Trần Văn Ph, sinh ngày 27/12/1995 tại Thành phố Hà Nội; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở Thôn Lưu Thượng, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; Giới tính nam; Nghề nghiệp lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc Kinh; Tôn giáo không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị Ng; Danh chỉ bản số 000000252, lập ngày 10/7/2018 tại công an huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự Không; Biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt. - Bị hại có kháng cáo Chị Trần Thị M, sinh năm 1977; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở Thôn Lưu Thượng, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; Có mặt. - Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Thị M Luật sư Phạm Hoàng Việt – Văn phòng luật sư Việt Thanh; Có mặt. - Viện kiểm sát không kháng nghị bản án sơ thẩm. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau Gia đình bà Nguyễn Thị Nguyệt và gia đình bà Trần Thị M là hàng xóm cạnh nhau. Sáng ngày 01/5/2018, bà Nguyệt và chồng là Trần Văn Bạ xây lại bức tường rào ngăn cách giữa hai gia đình. Khoảng 09 giờ cùng ngày bà Mãi đi xe đạp qua thì thấy ông Bạ, bà Nguyệt đang xây tường, sẵn có mâu thuẫn từ trước, nên bà Mãi dừng xe nhưng vẫn ngồi trên xe đạp cãi, chửi nhau với bà Nguyệt. Lúc này Trần Văn Ph con trai bà Nguyệt ở trong nhà nghe thấy tiếng cãi, chửi nhau giữa bà Mãi và bà Nguyệt, nên Phú cầm 01 chiếc điếu cày làm bằng tre dài 57cm, đường kính 04cm, không có lõ điếu đi ra để đánh bà Mãi. Thấy Phú cầm điếu cày đến, bà Mãi hoảng sợ nên bị ngã cả người, cả xe xuống đường. Sau đó bà Mãi đứng dậy và gọi “Anh Ba ơi nó đánh em” anh Ba là tên thường gọi của ông Trần Văn Tài là chồng bà Mãi, rồi bà Mãi chạy vào nhà ông Trần Quang Khải ở cạnh đó, nhưng khi chạy đến sân nhà ông Khải thì Phú đuổi kịp và đứng đối diện với bà Mãi, Phú đã dùng điếu cày vụt 01 nhát vào mạng sườn trái bà Mãi. Sau đó ông Khải, bà Nguyệt vào can ngăn, ông Khải từ phía sau ôm Phú, còn bà Nguyệt giằng chiếc điếu cày ra khỏi tay Phú. Thấy vậy, bà Mãi nhặt chiếc cặp lồng ở sân ném về phía Phú, thì trúng vào ông Khải, nhưng không gây thương tích gì. Đồng thời lúc này, ông Trần Văn Tài tên gọi khác là Ba cùng các con là chị Trần Thị Lan, chị Trần Thị Lan Hương, chị Trần Diệu Linh chạy ra chỗ bà Mãi đưa bà Mãi về nhà. Sau khi sự việc xẩy ra bà Trần Thị M được gia đình đưa đến Bệnh viện Vân Đình, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Thanh Nhàn sơ cứu và điều trị đến ngày 16/5/2018 thì ra viện. Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 3036/C54 – TT1 ngày 18/6/2018 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận Kết quả chính Qua kết quả nghiên cứu hồ sơ, khám giám định, khám chuyên khoa và các xét nghiệm, xác định chị Trần Thị M bị chấn thương vùng đầu và ngực kín, gãy xương sườn IX, X trái đã được điều trị. Hiện để lại Gãy cung bên xương sườn IX, X trái, đang can lệch nhẹ. Kết luận Áp dụng Mục 1, Phần II, Chương 4 Bẳng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT, ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể gãy cung bên xương sườn IX, X trái, đang can lệch nhẹ của chị Trần Thị M tại thời điểm giám định là 07% bảy phần trăm. Cơ chế hình thành thương tích Tổn thương gãy xương sườn IX, X trái của chị Trần Thị M do vật tầy gây lên. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST ngày 15/10/2018 của Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội đã quyết định 1. Về tội danh Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích” 2. Về điều luật áp dụng và hình phạt Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Ph 06 Sáu tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. 3. Về trách nhiệm dân sự Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự, buộc Trần Văn Ph phải bồi thường cho bà Trần Thị M đồng Ba mươi bẩy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi đồng được đối trừ đồng Hai mươi triệu đồng bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân dự huyện Phú Xuyên, theo biên lai biên thu tiền số AD/2010/0001304 ngày 04/10/2018. Bị cáo còn phải nộp tiếp đồng Mươi bẩy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi đồng Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về Biện pháp bảo đảm thi hành án; Xử lý vật chứng; Án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm; Quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm Ngày 22 tháng 10 năm 2018, bị cáo Trần Văn Ph có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt, cho được hưởng án treo; Ngày 24/10/2018, bị hại Trần Thị M có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt tù và mức bồi thường đối với bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm - Bị cáo Trần Văn Ph giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều khoản Luật cấp sơ thẩm đã áp dụng để xét xử bị cáo; Khai báo thành khẩn hành vi phạm tội như tại cơ quan điều tra và cấp sơ thẩm; Ăn năn về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo trình bầy do nhất thời nóng giận, muốn bênh mẹ nên đã cầm chiếc điếu cầy vụt 01 phát vào mạng xườn bị hại, gây thương tích cho bị hại, bản thân thì bị đưa ra xét xử nên ân hận, ăn năn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã xin lỗi bị hại và đã nghiêm túc chấp hành phán quyết của cấp sơ thẩm nộp khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền bồi thường và án phí mà cấp sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo mong bị hại bỏ qua lỗi lầm và xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. - Bị hại Trần Thị M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đã nộp ngày 24/10/2018 và yêu cầu bổ sung đơn kháng cáo nộp ngày 21/01/2019; Bị hại không có ý kiến gì về tội danh, điều khoản Luật cấp sơ thẩm đã áp dụng để xét xử bị cáo; Không chấp nhận lời xin lỗi của bị hại; Đề nghị xem xét đồng phạm đối với bà Trần Thị Nguyệt mẹ bị cáo vì bà Nguyệt hô hào bị cáo ra đánh bị hại, có chị Trần Thị Mun làm chứng; Đề nghị Hội đồng xét xử tăng mức hình phạt và bồi thường đối với bị cáo, cụ thể yêu cầu bị cáo phải bồi thường đồng gồm cả 5 khoản tiền thuốc, viện phí; Tiền ăn uống tại bệnh viện, bồi dưỡng thêm cho bệnh nhân và 30 ngày tiếp theo sau khi về nhà; Tiền xe đi lại khám chữa bệnh, Tiền công lao động bị giảm sút; Tiền bồi thường về tổn thất và tinh thần; Tại phiên toà phúc thẩm không nộp thêm các tài liệu chứng cứ nào khác liên quan đến yêu cầu tăng bồi thường so với mức bồi thường cấp sơ thẩm đã tuyên. - Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại có quan điểm Không có ý kiến gì về tội danh, điều khoản Luật cấp sơ thẩm đã áp dụng để xét xử bị cáo; Nhận thấy bị cáo xin lỗi bị hại nhưng không có thành ý ăn năn, nếu để ở ngoài xã hội là nguy hiểm nên đề nghị xử phạt giam đối với bị cáo; Về bồi thường dân sự thì bị hại yêu cầu bồi thường đồng gồm 1, Tiền thuốc, tiền viện phí trong 18 ngày điều trị đồng 2, Tiền ăn, uống tại bệnh viện cho 02 người mỗi ngày 03 bữa, sáng đồng, trưa đồng tổng cộng 02 người một ngày là đồng/ngày x18 ngày = đồng; Bồi dưỡng sữa 18 ngày là đồng; Hoa quả 18 ngày là đồng; Bồi dưỡng sau khi ra viện 30 ngày là đồng. Tổng là đồng. 3, Tiền xe đi khám chữa bệnh 13 chuyến là đồng. 4, Tiền công lao động giảm sút 18 ngày x đồng x 02 người = đồng; Bác sỹ hướng dẫn yêu cầu bị hại nghỉ 02 tháng không được lao động đồng x 60 ngày = đồng; 06 tháng không được lao động nặng để lành xương bị gẫy 180 ngày x đồng/ngày = đồng. Tổng cộng đồng. 5, Tiền bồi thường tổn thất tinh thần 35 lần x đồng = đồng. Tuy tại phiên toà phúc thẩm bị hại không xuất trình thêm được các chứng cứ về bồi thường, nhưng thực tế số tiền yêu cầu bồi thường trên là chi phí thực tế để chữa trị bồi dưỡng thương tích, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Về hình thức Bị cáo, bị hại nộp đơn kháng cáo trong thời hạn Luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo, bị hại theo trình tự phúc thẩm. Về nội dung Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm, nhưng cho hưởng án treo; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo tăng hình phạt và tăng mức bồi thường dân sự của bị hại vì không có căn cứ, giữ nguyên mức bồi thường mà cấp sơ thẩm đã tuyên. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau [1] Về hình thức Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn Ph, bị hại Trần Thị M nộp trong thời hạn Luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. [2] Về nội dung Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm, cũng như tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận Ngày 01/5/2018, do thấy mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Nguyệt và bị hại là bà Trần Thị M có mâu thuẫn, cãi nhau về việc bố mẹ bị cáo xây bức tường ngăn cách giũa hai nhà, nên Trần Văn Ph cầm 01 chiếc điếu cày làm bằng tre dài 57cm, đường kính 04cm, không có lõ điếu đi từ nhà mình ra, đuổi bà Mãi vào sân nhà ông Trần Quang Khải ở tại thôn Lưu Thượng, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội và vụt bà Mãi 01 phát vào mạng xườn trái, làm gẫy cung bên xương sườn IX, X trái. Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 3036/C54-TT1 ngày 18/6/2018 của Viện khoa học hình sự-Bộ Công an đã kết luận tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Trần Thị M tại thời điểm giám định là 07%. Với hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn Ph về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, bị hại Hội đồng xét xử nhận thấy Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác. Do vậy, phải truy tố và đưa ra xét xử đối với bị cáo mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét thấy, bị cáo là người có trình độ văn hoá nên khi xảy ra mâu thuẫn giữa mẹ bị cáo và bà Mãi thì bị cáo phải can ngăn, nhưng bị cáo đã dùng ngay điếu cày được coi là hung khí nguy hiểm đuổi đánh, gây thương tích cho bà Mãi, gây mất trật tự trị an nên cần thiết phải tăng hình phạt đối với bị cáo mới đảm bảo việc răn đe. Tuy nhiên, xem xét đánh giá nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Có nơi cư trú rõ ràng; Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, phạm tội lần đầu; Sau khi phạm tội bị cáo Khai báo thành khẩn để cơ quan điều tra nhanh chóng làm rõ vụ án; Ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Trước khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp tiền bồi thường khắc phục một phần hậu quả và khi Toà án chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì bị cáo đã tỏ rõ nhận ra sai lầm từ hành vi phạm tội của mình và tự nộp toàn bộ tiền bồi thường khắc phục hậu quả và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm tại cơ quan thi hành án. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo thể hiện thái độ nghiêm túc ăn năn hối cải khi nhận ra hành vi vi phạm pháp luật của mình, đã xin lỗi bị hại tại phiên toà, bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền bồi thường cho bị hại theo quyết định của bản án sơ thẩm; Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho được cải tạo ngoài xã hội, dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú, ấn định thời gian thử thách cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm quyết định chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Chấp nhận kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng hình phạt; Tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo, nhưng mở lượng khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự Xét yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại của bị hại nhận thấy căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 thì bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra cho bị hại các khoản chi phí hợp lý trong việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Trên cơ sở chứng từ thực tế do bà Trần Thị M cung cấp có trong hồ sơ vụ án; Mức sống và sinh hoạt tại địa phương; Sau khi điều trị 16 ngày tại bệnh viện bút lục số 92, ra viện bà Mãi có đi khám lại; Trên cơ sở thương tích của bà Mãi, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Mãi tăng mức bồi thường của bị cáo đối với bị hại, cụ thể chấp nhận các khoản bồi thường như sau 1. Tiền thuê xe đi khám, chữa bệnh 11 lượt vào các ngày 06/5; 12/5; 16/5; 18/5; 23/5; 29/5; 10/6; 20/6; 18/7; 20/7; 27/9 với số tiền là đ 2. Tiền viện đ 3. tiền thuốc đồng 4. Thu nhập bị mất trong thời gian nằm viện và điều trị 16 ngày x = đồng 5. Thu nhập bị mất của người chăm sóc 16 ngày x đồng = đồng 6. Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ đồng 7. Tổn thất tinh thần 10 lần mức lương cơ sở x đồng = đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bà Trần Thị M là đồng bốn mươi chín triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp đồng ba mươi bẩy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi đồng - tiền bồi thường cho bà Mãi tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Bị cáo còn phải bồi thường đồng mười hai triệu hai trăm linh chín nghìn tám trăm đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. [3]Về án phí Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. [4]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. I. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Văn Ph; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại Trần Thị M . II. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HSST ngày 15/10/2018 của Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; Tăng mức hình phạt, nhưng cho bị cáo hưởng án treo; Tăng mức bồi thường thiệt hại của bị cáo đối với bị hại. Tuyên bố Trần Văn Ph phạm tội “ Cố ý gây thương tích” Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự Xử phạt Trần Văn Ph 09 chín tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 mười tám tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự Căn cứ điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật đân sự năm 2015 buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại - bà Trần Thị M đồng bốn mươi chín triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi đồng; Xác nhận bị cáo đã nộp đồng ba mươi bẩy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi đồng tiền bồi thường cho bị hại theo biên lai số AD/2010/0001304 ngày 04/10/2018 và biên lai số AD/2010/0001309 ngày 2310/2018 tại Chị cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại đồng mười hai triệu hai trăm linh chín nghìn tám trăm đồng. Bị hại - bà Trần Thị M được nhận đồng ba mươi bẩy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi đồng tiền bị cáo đã bồi thường tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Xác nhận bị cáo đã nộp đồng án phí hình sự sơ thẩm và đồng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số AD/2010/0001308 ngày 23/10/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không trả, thì hàng tháng còn phải trả cho bị hại số tiền lãi theo mức lãi xuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. III. Về án phí Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo phải chịu đồng sáu trăm mười nghìn bốn trăm chín mươi đồng án phí dân sự phúc thẩm. IV. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 25/01/2019. Nguồn BỘ Y TẾ - CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - Số 20/2014/TT-BYT Hà Nội, ngày 12 tháng 6 năm 2014 THÔNG TƯ QUY ĐỊNH TỶ LỆ TỔN THƯƠNG CƠ THỂ SỬ DỤNG TRONG GIÁM ĐỊNH PHÁP Y, GIÁM ĐỊNH PHÁP Y TÂM THẦN Căn cứ Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012; Căn cứ Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp; Căn cứ Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Điều 1. Quy định về tỷ lệ tổn thương cơ thể 1. Ban hành kèm theo Thông tư này bảng tỷ lệ phần trăm % tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần như sau a Bảng 1 Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích; b Bảng 2 Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do bệnh, tật. 2. Trong Thông tư này, tỷ lệ tổn thương cơ thể sau đây viết tắt là tỷ lệ TTCT bao gồm tỷ lệ tổn hại sức khỏe; tỷ lệ thương tật; tỷ lệ thương tích; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích, do bệnh, tật. Điều 2 Nguyên tắc giám định 1. Giám định để xác định tỷ lệ % TTCT phải được thực hiện trên đối tượng cần giám định, trừ trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều này. 2. Giám định để xác định tỷ lệ % TTCT được thực hiện qua trên hồ sơ trong trường hợp người cần được giám định đã bị chết hoặc bị mất tích hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan. Khi giám định qua hồ sơ, tỷ lệ % TTCT được xác định ở giới hạn thấp nhất của khung tỷ lệ tương ứng với các tỷ lệ % TTCT ban hành kèm theo Thông tư này. 3. Tỷ lệ % TTCT được xác định tại thời điểm giám định. Điều 3. Nguyên tắc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể 1. Tổng tỷ lệ % TTCT của một người không vượt quá 100%. 2. Mỗi tổn thương cơ quan của cơ thể và mỗi di chứng do tổn thương này gây ra chỉ được tính tỷ lệ % TTCT một lần. Trường hợp tổn thương cơ quan này nhưng gây biến chứng ở cơ quan thứ hai đã được xác định, thì tính thêm tỷ lệ % TTCT do di chứng tổn thương trên cơ quan thứ hai. 3. Nếu nhiều TTCT là triệu chứng thuộc một hội chứng hoặc thuộc một bệnh đã được nêu trong Bảng tỷ lệ quy định tại Điều 1 Thông tư này thì tỷ lệ % TTCT được xác định theo hội chứng hoặc theo bệnh đó. 4. Khi tính tỷ lệ % TTCT chỉ lấy hàng thập phân đến hai chữ số. Ở kết quả cuối cùng làm tròn số để có tổng tỷ lệ % TTCT là số nguyên Nếu chữ số hàng thập phân lớn hơn hoặc bằng 5 thì làm tròn số thành 01 đơn vị. 5. Khi tính tỷ lệ % TTCT của một bộ phận cơ thể hoặc cơ quan cơ thể có tính chất đối xứng, hiệp đồng chức năng mà một bên bị tổn thương hoặc bệnh lý có sẵn đã được xác định, thì tính cả tỷ lệ % TTCT đối với cơ quan hoặc bộ phận bị tổn thương hoặc bệnh lý có sẵn đó. Ví dụ Một người đã bị cắt thận phải trước đó, nếu lần này bị chấn thương phải cắt thận trái thì tỷ lệ % TTCT được tính là mất cả hai thận. 6. Khi giám định, căn cứ tổn thương thực tế và mức độ ảnh hưởng của tổn thương đến cuộc sống, nghề nghiệp của đối tượng giám định, giám định viên đánh giá, xác định tỷ lệ % TTCT được quy định tại Thông tư này. Điều 4 Phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể 1. Việc xác định tỷ lệ % TTCT được tính theo phương pháp cộng như sau Tổng tỷ lệ % TTCT = T1 + T2 + T3 +…+ Tn Trong đó a T1 Tỷ lệ % TTCT của tổn thương thứ nhất T1 được xác định là tỷ lệ % tổn thương nằm trong khung tỷ lệ các TTCT; b T2 Tỷ lệ % TTCT của tổn thương thứ hai T2 = 100 - T1 x tỷ lệ % TTCT thứ 2/100; c T3 Tỷ lệ % TTCT của tổn thương thứ ba T3 = 100-T1-T2 x tỷ lệ % TTCT thứ 3/100; d Tn Tỷ lệ % TTCT của tổn thương thứ n Tn= {100-T1-T2-T3-…-Tn-1} x tỷ lệ % TTCT thứ n/100. 2. Ví dụ Ông Nguyễn Văn D được xác định có 03 tổn thương - Cụt 1/3 giữa cánh tay phải, khung tỷ lệ % TTCT từ 61 - 65%; - Mù mắt trái chưa khoét bỏ nhãn cầu, tỷ lệ % TTCT là 41%; - Nghe kém trung bình hai tai mức độ I, tỷ lệ % TTCT từ 21 - 25%. Áp dụng phương pháp nêu trên, tổng tỷ lệ % TTCT của ông Nguyễn Văn D được tính như sau - T1 = 63% tỷ lệ % TTCT quy định tại Thông tư này từ 61-65%, giám định viên có thể đáng giá, xác định tỷ lệ % TTCT là 61%, 62%, 63%, 64% hoặc 65%. Ví dụ trường hợp này giám định viên lấy tỷ lệ TTCT là 63%. - T2 = 100 - 63 x 41/100 % = 15,17 % kết quả lấy đến hai chữ số thập phân. - T3 Nghe kém trung bình hai tai mức độ I, tỷ lệ % TTCT được quy định trong Thông tư này từ 21% - 25%. Giám định viên có thể đánh giá, xác định tỷ lệ % TTCT trong khoảng từ 21% đến 25%. Ví dụ trường hợp này giám định viên lấy tỷ lệ % TTCT là 22%, thì tỷ lệ % TTCT của ông D được tính là - T3 = 100 - 63 - 15,17 x 22/100 % = 4,80% Tổng tỷ lệ % TTCT của ông Nguyễn Văn D là 63% + 15,17 % + 4,80% = 82,97 %, làm tròn số là 83%. Kết luận Tỷ lệ TTCT của ông Nguyễn Văn D là 83%. Điều 5. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2014. Điều 6. Tổ chức thực hiện 1. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện Thông tư này trên phạm vi toàn quốc. 2. Viện Pháp y quốc gia, Viện Pháp y tâm thần Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ pháp y, pháp y tâm thần đối với Viện Pháp y quân đội thuộc Bộ Quốc phòng, Trung tâm Giám định pháp y thuộc Viện Khoa học hình sự của Bộ Công an, các tổ chức thực hiện giám định pháp y, các tổ chức thực hiện giám định pháp y tâm thần trên toàn quốc thực hiện theo đúng quy định tại Thông tư này. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc, các đơn vị, địa phương cần phản ánh kịp thời về Bộ Y tế Cục Quản lý Khám, chữa bệnh để được hướng dẫn, giải quyết./. Nơi nhận - Văn phòng Chính phủ Vụ Pháp luật, Công báo, Cổng thông tin điện tử CP; - Ủy ban Tư pháp của Quốc hội; - Bộ Tư pháp Cục Kiểm tra văn bản QPPL; - Các Bộ Công an, Quốc phòng, Tư pháp; - Bộ Y tế Cục QLKCB, Vụ PC, Thanh tra Bộ, Viện PYQG, Viện PYTT TW, Cổng TTĐT BYT; - Viện Pháp y quân đội, Viện KHHS Bộ Công an; - Sở Y tế tỉnh/thành phố trực thuộc TW; - TTPY tỉnh/thành phố trực thuộc TW; - TTPYTT khu vực trực thuộc BYT; - Lưu VT, PC, KCB. KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG Nguyễn Viết Tiến Cho hỏi giám định vật gây thương tích là sử dụng những phương pháp giám định nào?- Câu hỏi của anh Bình tại Hà Nội. Trình tự tiếp nhận, phân công và chuẩn bị giám định vật gây thương tích được bộ y tế quy định như thế nào? Phương pháp giám định vật gây thương tích được quy định thực hiện như thế nào? Mẫu kết luận giám định vật gây thương tích được quy định như thế nào? Trình tự tiếp nhận, phân công và chuẩn bị giám định vật gây thương tích được bộ y tế quy định như thế nào?Căn cứ tiểu mục III Mục 9 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư 13/2022/TT-BYT quy định trình tự tiếp nhận, phân công và chuẩn bị giám định vật gây thương tích như sauBước 1. Tiếp nhận quyết định trưng cầu/yêu cầu, hồ sơ và đối tượng giám định- Bộ phận được phân công tiếp nhận và lập biên bản giao nhận quyết định trưng cầu/yêu cầu giám định, hồ sơ giám định và mẫu vật giám định.* Hồ sơ gửi giám định gồm- Quyết định trưng cầu/yêu cầu giám Bản sao hợp pháp các hồ sơ, tài liệu liên quan đến nội dung cần giám định+ Các hồ sơ y tế có liên quan giám định nếu có.+ Quyết định trưng cầu/yêu cầu giám định, kết luận giám định trước đó đối với trường hợp giám định bổ sung, giám định lại.+ Biên bản ghi lời khai của bị hại, nghi can, nhân chứng nếu cần.+ Biên bản niêm phong thu mẫu vật.+ Các tài liệu khác có liên quan đến nội dung cần giám định nếu có.- Mẫu vật giám định.* Nếu đủ điều kiện giám định, thực hiện các bước tiếp theo của quy trình này.* Từ chối giám định trong trường hợp không đủ điều kiện giám định theo quy định tại khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư 2. Phân công cán bộ chuyên môn- Lãnh đạo đơn vị phân công giám định viên GĐV pháp y, người giúp việc NGV cho GĐV pháp y thực hiện giám Nhiệm vụ của GĐV+ Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu.+ Liên hệ và trao đổi với đại diện cơ quan trưng cầu và các cơ quan có liên quan.+ Chỉ đạo NGV chuẩn bị dụng cụ, trang thiết bị để giám định.+ Giám định mẫu vật.+ Đề nghị và chuẩn bị tổ chức thực nghiệm, hội chẩn, hoặc xin ý kiến chuyên gia nếu cần.+ Tổng hợp, đánh giá các kết quả nghiên cứu mẫu vật, thực nghiệm, hội chẩn,... nếu có đưa ra kết luận giám định.+ Hoàn thiện văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định và kết luận giám định.+ Giải quyết những phát sinh trong quá trình giám định, báo cáo kết quả với lãnh đạo cơ quan.+ Trong quá trình giám định, các GĐV phối hợp, thảo luận, thống nhất trước khi kết luận giám Nhiệm vụ của NGV+ Chuẩn bị dụng cụ, trang thiết bị giám định.+ Chụp ảnh mẫu vật giám định.+ Phụ giúp GĐV tiến hành thực nghiệm, chụp ảnh thực nghiệm nếu có.+ Vệ sinh dụng cụ, thiết bị, phương tiện.+ Phụ giúp GĐV dự thảo văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định và kết luận giám định, hoàn thiện bản ảnh giám định trình GĐV duyệt.+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của 3. Nghiên cứu hồ sơ, tài liệuGĐV nghiên cứu hồ sơ, tài liệu trước khi tiến hành khám giám 4. Làm việc với cán bộ cơ quan trưng cầu/người yêu cầu giám định- Tiếp nhận mẫu vật giám định bàn giao từ cơ quan trưng cầu/người yêu cầu giám định. Mở niêm phong, lập biên bản theo quy Yêu cầu cán bộ cơ quan trưng cầu/người yêu cầu giám định phối hợp, bổ sung hồ sơ, tài liệu, đưa người bị thương tích đến khám trong trường hợp cần trình giám định vật gây thương tích được bộ y tế hướng dẫn như thế nào? Phương pháp giám định vật gây thương tích được quy định như thế nào? Hình từ InternetPhương pháp giám định vật gây thương tích được quy định thực hiện như thế nào?Căn cứ tiểu mục IV Mục 3 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư 13/2022/TT-BYT có quy định như sau về phương pháp trong quy trình giám định vật gây thương tích như saui Nghiên cứu mẫu vật- Quan sát, phân loại mẫu Đánh giá tổng thể mẫu vật, đo kích thước chiều dài, chiều rộng, độ cao, độ dày,..., cân từng mẫu Mô tả đặc điểm, tính chất của mẫu vật Vật cứng, vật tày, vật sắc, vật có cạnh, hỗn hợp,...- Tìm kiếm dấu hiệu, đặc tính gây thương tích của mẫu Đối chiếu mẫu vật với thương tích được ghi nhận qua hồ sơ, tài liệu, trong trường hợp cần thiết có thể đối chiếu trực tiếp trên cơ thể người bị thương Đối chiếu sự tương quan của các đặc điểm thương tích với mẫu vật.+ Bờ mép vết thương.+ Chiều dài vết thương.+ Chiều rộng vết thương.+ Chiều sâu vết thương.+ Trọng lượng của mẫu vật so với thương tích.+ Các đặc điểm khác giữa mẫu vật và thương Lựa chọn xác định sự phù hợp của vật gây thương tích trong trường hợp có nhiều mẫu vật được gửi đến giám định.ii Thực nghiệm, hội chẩn, xin ý kiến chuyên gia- Trong trường hợp cần thiết, GĐV đề xuất với thủ trưởng cơ quan giám định tiến hành thực nghiệm, hội chẩn, xin ý kiến chuyên gia.+ Căn cứ vào hồ sơ, tài liệu.+ Căn cứ vào vị trí tổn thương.+ Căn cứ vào tính chất tổn thương.+ Chọn mẫu vật.+ Chọn mẫu thực nghiệm phù hợp.+ Chụp ảnh có thể ghi hình nếu cần, lập biên bản quá trình thực nghiệm, kết quả thực nghiệm.iii Tổng hợp, đánh giá và kết luận giám định- Tổng hợp các kết quả chính+ Tổng hợp, đánh giá kết quả nghiên cứu hồ sơ, tài liệu.+ Tổng hợp, đánh giá kết quả nghiên cứu mẫu vật.+ Kết quả thực nghiệm, kết quả hội chẩn, ý kiến chuyên gia nếu có.- Kết luận Kết luận giám định căn cứ vào các kết quả chính qua giám định, trả lời nội dung các câu hỏi trong quyết định trưng cầu/yêu cầu giám kết luận giám định vật gây thương tích được quy định như thế nào?Hiện nay kết luận giám định vật gây thương tích được quy định tại Mẫu số 11a hoặc 11b Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư 13/2022/TT-BYT như sauTải Mẫu kết luận giám định vật gây thương tích Tải về. 1. Quy định của pháp luật. Giám định tư pháp nó đánh giá trình độ phát triển pháp luật, mức độ dân chủ của một Quốc gia. Trước đây hoạt động giám định được thực hiện nhằm cung cấp các chứng cứ để phục vụ cho việc giải quyết các vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng. Hiện nay, thì hoạt động giám định còn để phục vụ công tác quản lý Nhà nước, thanh tra, kiểm tra hoạt động nghiệp vụ, giao dịch dân sự của tổ chức, cá nhân. Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này. Điều 2 Luật giám định tư pháp. Khi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được phân công nhiệm vụ trong khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự, nếu đương sự hoặc người đại diện của họ đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định. Trường hợp không chấp nhận đề nghị thì thông báo cho người đã đề nghị giám định biết bằng văn bản và nêu rõ lý do. Hết thời hạn này hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì người đề nghị giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định. Theo quy định tại Điều 206 BLTTHS năm 2015 đối với các vụ án hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng bắt buôc phải trưng cầu giám định, gồm “ 1. Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án; 2. Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó; 3. Nguyên nhân chết người; 4. Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động; 5. Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ; 6. Mức độ ô nhiễm môi trường.” Có thể thấy, kết luận giám định có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thu thập, xác lập chứng cứ, củng cố chứng cứ, kiểm tra chứng cứ là cơ sở để các cơ quan, người tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận giám định sai có thể dẫn đến oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Do tính chất quan trọng như vậy BLTTHS năm 2015 và Luật giám định tư pháp năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 đã quy định việc giám định lại, giám định bổ sung. Theo quy định Điều 210 BLTTHS thì giám định bổ sung được tiến hành trong trường hợp “Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ; Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước đó.” Tại Điều 211 BLTTHS thì “Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện”. Giám định lại có thể tiến hành lần thứ hai khi có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định. Việc giám định lần hai do người trưng cầu giám định quyết định và phải do Hội đồng giám định thực hiện. Hội đồng giám định phải có ít nhất 03 thành viên là Giám định viên, người có chuyên môn cao và có uy tín trong lĩnh vực cần giám định. Theo khoản 3 Điều 28 Luật giám định tư pháp thì Hội đồng giám định hoạt động theo cơ chế giám định tập thể, các cơ quan giám định tư pháp là độc lập nhau, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả giám định, không có quy định cơ quan giám định cấp cao hơn. Kết luận giám định tư pháp mang tính khoa học, là một trong những nguồn chứng cứ được thu thập theo thủ tục tố tụng, làm căn cứ cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và quyết định khi giải quyết vụ án. Do đó, BLTTHS và Luật giám định tư pháp không đặt ra yêu cầu xác định “Kết luận giám định cuối cùng” do không thể coi kết luận giám định của một cấp nào đó là tuyệt đối đúng. Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là cần xem xét, đánh giá kết luận giám định cùng với các nguồn chứng cứ khác. Trường hợp có mâu thuẫn về kết luận giám định, nếu thấy cần thiết thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng quyết định trưng cầu giám định lại. Nhằm hạn chế việc giám định nhiều lần và có điểm dừng tại Điều 30 của Luật giám định tư pháp cũng quy định “ Nếu vụ việc đã được Hội đồng giám định lần hai thì không giám định lại nữa, trừ trường hợp đặc biệt do Chánh án TAND rối cao, Viện trưởng VKSND tối cao quyết định”. Đồng thời theo quy định tại Điều 212 BLTTHS năm 2015 thì “Kết luận giám định lại trong trường hợp do Hội đồng giám định thực hiện trong trường hợp đặc biệt được sử dụng để giải quyết vụ án”. Đây là những quy định thể hiện tính nhân đạo của Nước ta được quy định trong Hiến pháp năm 2013 đối với người có dấu hiệu tội phạm, thể hiện sự khoan hồng, dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền con người. 2. Bất cập trong quy định Mặc dù, BLTTHS năm 2015 sửa đổi năm 2017; Luật giám định tư pháp năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và các Văn bản, Thông tư hướng dẫn của đã quy định, hướng dẫn, áp dụng về giám định tư pháp. Tuy nhiên, thực tế hiện nay nhiều Tòa án nhân dân địa phương vẫn còn lúng túng trong các vụ án hình sự có nhiều kết luận giám định của các tổ chức giám định kết quả khác nhau. Qua nghiên cứu các Bản án, quyết định ở một số đơn vị, chúng tôi thấy Ở mỗi cơ quan tố tụng tại các địa phương khác nhau có cách hiểu và giải quyết kết luận giám định là khác nhau, vẫn còn có nhiều quan điểm, ý kiến trái chiều nhau. Trên đây là một trường hợp cụ thể và là anh em ruột. Hai bên có mâu thuẫn với nhau từ trước trong việc tranh chấp đất đai, tài sản của bố mẹ, nên thường xuyên cãi nhau. Đến ngày 14/02/2019, Q đe dọa sẽ đánh V, V thách thức lại Đ. Q nhặt gậy gỗ trong nhà bếp gậy gỗ cầm bằng tay phải đánh V từ phía sau theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng lưng, bụng, tay và chân. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 60/2019/TgT ngày 14/03/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh G, kết luận Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của V là 13%. Không đồng ý với kết luận giám định nêu trên cả Q và V đều yêu cầu giám định lại, tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 23/TgT-TTPY ngày 15/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ giám định lại, kết luận Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 09%. Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh G truy tố bị cáo Đ. Q về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Với lý do tỷ lệ thương tật mà Đ. Q đã gây ra cho Đ. V là 13 % với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm”. Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Đ. Q theo khoản 1 Điều 134 BLHS, nhưng VKS cùng cấp vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo như bản Cáo trạng số 13/CT-VKS. Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã dự kiến của sẽ xét xử bị cáo Đ. Q theo khoản 1 Điều 134 BLHS, tại phiên tòa bị hại có “Đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án”. Quan điểm thứ nhất cho rằng Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 23/TgT-TTPY ngày 15/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ giám định lại kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với bị hại là 9% là kết luận tại thời điểm giám định lại. Viện kiểm sát không chấp nhận kết luận giám định này mà sử dụng kết luận giám định lần đầu của Trung tâm giám định pháp y tỉnh G 13% để giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 134 BLHS. Quan điểm thứ hai cho rằng Kết luận giám định của Trung tâm giám định pháp y tỉnh G có sai sót về tỉ lệ kết luận, không đúng với quy định của Thông tư số 20/2014/TT-BYT của Bộ Y tế nên đã chấp nhận yêu cầu giám định lại của bị cáo và bị hại. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 23/TgT-TTPY ngày 15/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ giám định lại kết luận tỷ lệ thương tích của bị hại là 09% là phù hợp với quy định của Thông tư số 20/2014/TT-BYT, cần được sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án. Với tỉ lệ thương tích này, bị cáo chỉ bị xử lý theo khoản 1 Điều 134 BLHS, nên khi bị hại có “Đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án và khởi tố bị can” thì vụ án phải được đình chỉ theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quan điểm thứ ba Do kết luận giám tư pháp định ở hai lần có kết quả khác nhau, giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật giám định tư pháp và kết luận giám định lại trong trường hợp do Hội đồng giám định thực hiện trong trường hợp đặc biệt được sử dụng để giải quyết vụ án Điều 212 BLTTHS. Vì vậy, trong vụ án này HĐXX phải hoãn phiên tòa, tiến hành trưng cầu giám định tư pháp lần thứ hai do Hội đồng giám định thực hiện. 3. Cần có hướng dẫn thống nhất Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc mỗi Tòa án nhân dân ở mỗi cấp, mỗi Tỉnh có cách hiểu khác nhau về giám định tư pháp và kết luận giám định tư pháp của các cơ quan, tổ chức giám định tư pháp. Quan điểm của tác giả trong nội dung bài viết này là đồng ý với quan điểm thứ ba. Vì kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ rất quan trọng làm căn cứ cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và quyết định khi giải quyết vụ án, đảm bảo giải quyết vụ án khách quan, tránh oan sai và không bỏ lọt tội phạm. Đặt trường hợp như vụ án nêu trên nếu kết quả do Hội đồng giám định lần hai thực hiện mà tỷ lệ thương tật của người bị hại 09%, tại giai đoạn xét xử sơ thẩm “Người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa căn cứ vào Điều 45, điểm a khoản 1 Điều 282 của Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án; Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn căn cứ vào khoản 2 Điều 155, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án”. Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TAND tối cao. Thực tế hiện nay vấn đề ban hành các Quyết định trưng cầu giám định thì các cơ quan tiến hành tố tụng ban hành Quyết định có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nội dung, yêu cầu cần giám định và việc ấn định thời hạn thực hiện giám định của cơ quan giám định, cũng như việc thành lập Hội đồng giám định lần thứ hai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật giám định tư pháp quy định “Bộ trường, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý về lĩnh vực cần giám định quyết định thành lập Hội đồng để thực hiện giám định lại lần thứ hai,...” vẫn còn vướng mắc, BLTTHS, Luật giám định tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định cụ thể về thời gian để Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý về lĩnh vực cần giám định thành lập Hội đồng để thực hiện việc giám định, trong khi đó thời hạn giám định theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 208 BLTTHS là không quá 09 ngày đối với trường hợp giám định “Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe” được quy định tại khoản 4 Điều 206 BLTTHS. Mặc khác, việc Tòa án yêu cầu thành lập Hội đồng giám định để giám định lần thứ hai, theo quy định tại khoản Điều 36 Luật giám định tư pháp thì “Kinh phí thanh toán chi phí giám định tư pháp mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm chi trả được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo dự toán hằng năm của cơ quan đó để thực hiện nhiệm vụ giám định tư pháp.”, sẽ gây khó khăn cho Tòa án khi yêu cầu Hội đồng giám định lần thứ hai. Bên cạnh đó, Luật chưa quy định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân, cơ quan tổ chức giám định khi thực hiện chậm trễ việc giám định để vụ án phải kéo dài; hiện nay có nhiều vụ án phải tạm đình chỉ chờ kết luận giám định để khởi tố, truy tố và xét xử. Do đó, cần quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện việc giám định; từ chối, né tránh việc giám định, thời gian giám định và kết luận giám định; trong trường hợp có kết quả trong kết luận giám định là khác nhau trong cùng một vụ việc, kết luận giám định không đúng sự thật hoặc không khách quan, có sai lệch do lỗi chủ quan trong kết luận giám định… Qua vụ án trên, theo tôi thì Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật giám định cũng cần sửa đổi bổ sung theo hướng “Trong trường hợp việc giám định được thực hiện nhiều lần do các tổ chức, cá nhân giám định thì kết luận giám định tư pháp sau cùng là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sử dụng làm cơ sở khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự trong trường hợp không có khiếu nại hoặc không yêu cầu giám định lần tiếp theo”. Như vậy, đảm bảo có lợi cho người phạm tội khi giải quyết vụ án, và tổ chức, cá nhân khi thực hiện nhiệm vụ giám định tư pháp có thể có sai sót, không đúng. Bởi vì, thực tế hiện nay rất nhiều vụ án kết quả giám định lần đầu và lần sau là có khác nhau, nhưng bị can, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng trong vụ án đều đồng ý với kết luận giám định lần sau và họ không khiếu nại, thắc mắc gì thì đương nhiên có hiệu lực pháp luật; Chúng ta không cần thiết phải thực hiện việc giám định nhiều lần, gây lãng phí, tốn kém kinh phí. Với mong muốn để thực tiễn về giám định tư pháp, kết luận giám định tư pháp đảm bảo tính chính xác, khách quan để các cơ quan tiến hành tố và người tiến hành tố tụng làm căn cứ để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, rất mong các cơ quan tư pháp ở Trung ương sớm có hướng dẫn thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. BỘ Y TẾ - CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - Số 47/2013/TT-BYT Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2013 THÔNG TƯ BAN HÀNH QUY TRÌNH GIÁM ĐỊNH PHÁP Y Căn cứ Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012; Căn cứ Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp; Căn cứ Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế; Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư ban hành Quy trình giám định pháp y. Điều 1. Ban hành Quy trình giám định pháp y Ban hành kèm theo Thông tư này Quy trình giám định pháp y, bao gồm Phần I Quy trình giám định pháp y 54 quy trình; Phần II Quy trình giám định hóa pháp 29 quy trình; Phần III Quy trình giám định ADN 10 quy trình. Điều 2. Biểu mẫu sử dụng trong giám định pháp y Ban hành kèm theo Thông tư này các biểu mẫu sử dụng trong giám định pháp y, bao gồm 1. Biểu mẫu bản kết luận giám định pháp y; a Mẫu số 1a Bản kết luận giám định pháp y về thương tích; b Mẫu số 1b Bản kết luận giám định pháp y về thương tích lại lần thứ hai; c Mẫu số 2a Bản kết luận giám định pháp y về tử thi; d Mẫu số 2b Bản kết luận giám định pháp y về tử thi lại lần thứ hai; đ Mẫu số 3a Bản kết luận giám định pháp y về tình dục; e Mẫu số 3b Bản kết luận giám định pháp y về tình dục lại lần thứ hai; g Mẫu số 4a Bản kết luận giám định pháp y về giới tính; h Mẫu số 4b Bản kết luận giám định pháp y về giới tính lại lần thứ hai; i Mẫu số 5a Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi; k Mẫu số 5b Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi lại lần thứ hai; l Mẫu số 6a Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp; m Mẫu số 6b Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp lại lần thứ hai; n Mẫu số 7a Bản kết luận giám định pháp y về ADN; o Mẫu số 7b Bản kết luận giám định pháp y về ADN lại lần thứ hai; p Mẫu số 8a Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ; q Mẫu số 8b Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ lại lần thứ hai; r Mẫu số 9a Bản kết luận giám định pháp y về mô bệnh học; s Mẫu số 9b Bản kết luận giám định pháp y về mô bệnh học lại lần thứ hai; 2. Mẫu số 10 Giấy chứng nhận thương tích. 3. Mẫu số 11 Biên bản lấy mẫu giám định ADN. 4. Mẫu số 12 Biên bản giao nhận đối tượng, mẫu giám định. Điều 3. Hiệu lực thi hành Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2014. Điều 4. Trách nhiệm thi hành 1. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh chủ trì, phối hợp với Vụ Pháp chế và các Vụ, Cục liên quan chỉ đạo, hướng dẫn Viện Pháp y quốc gia, Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện theo đúng quy định tại Thông tư này. 2. Viện Pháp y quốc gia hướng dẫn Viện Pháp y quân đội thuộc Bộ Quốc phòng, Trung tâm giám định pháp y thuộc Viện Khoa học hình sự của Bộ Công an, các Trung tâm Pháp y tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện theo đúng quy định tại Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Y tế để xem xét giải quyết./. Nơi nhận - Văn phòng Chính phủ Vụ Pháp luật, Công báo, Cổng thông tin điện tử CP; - Các Bộ Công an, Quốc phòng, Tư pháp; - Ủy ban Tư pháp của Quốc hội; - Bộ Tư pháp Cục Kiểm tra văn bản QPPL; - Bộ Y tế Cục QLKCB, Vụ PC, Thanh tra Bộ, Viện PYQG, Cổng TTĐT BYT; - Viện Pháp y Quân đội, Viện KHHS Bộ Công an; - Sở Y tế tỉnh/thành phố trực thuộc TW; - Lưu VT, KCB, PC; KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG Nguyễn Viết Tiến

giám định pháp y thương tích